Tự tạo cho mình một FTP SERVER

Người đăng: Unknown on Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Tự tạo cho mình một FTP SERVER

Để tạo một FTP Server (máy chủ truyền tải file), điều cần có đầu tiên chính là một số IP tĩnh. Nếu sử dụng IP động, mỗi khi kết nối mạng sẽ có số IP khác nhau khiến mọi người không thể biết để truy cập vào. Phần mềm tạo FTP Server có rất nhiều. Tuy nhiên, trong bài này, tôi sẽ dùng Serv-U để minh họa. Đây là phần mềm shareware, bạn có thể tải bản 4.1 (3MB) về dùng thử 30 ngày tại địa chỉ www.Serv-U.com . Serv-U chạy được trên Windows 9x/Me/NT/ 2000/XP và khá dễ "vọc" đối với các bạn mới làm quen với việc tạo FTP Server vì cách sử dụng rất đơn giản.

Sau khi cài đặt Serv-U vào máy, bạn chạy Serv-U Administrator.

- Cửa sổ Serv-U được chia ra làm hai phần. Nhấp chuột phải vào mục Domain ở phần bên trái, chọn New Domain.

Trong cửa sổ Add new domain – step 1, nhập số IP -> Next. Trong Add new domain – step 2, nhập tên FTP Server (tùy ý) -> Next. Trong Add new domain – step 3, chọn cổng giao tiếp giữa FTP Server của bạn và Internet, mặc định là 21 (bạn cũng có thể dùng cổng khác) -> Next. Kế đó nhấn "Finish" tại cửa sổ Add new domain – step 4.

- Vì tốc độ và băng thông kết nối Internet của Server luôn bị giới hạn, nên để hạn chế số người truy cập vào FTP Server cùng lúc, bạn làm như sau:

- Trong cửa sổ bên trái, ở phần Domain, chọn Settings. Trong cửa sổ bên phải, chỉ định số lượng người được phép truy cập vào FTP server của mình ở mục General/ Max no of users. Sau đó từ Menu Bar chọn Setting -> Apply để lưu giá trị vừa mới nhập vào (bạn cũng có thể nhấn vào biểu tượng chiếc đĩa mềm ở góc trên, bên trái).

- Để tạo Account (tài khoản truy cập), bao gồm tên (username) và mật khẩu (password) cho người sử dụng, ở phần bên trái cửa sổ Serv-U Administrator, mục Domain, nhấn chuột phải vào Users và chọn New User. Ở cửa sổ đầu tiên, nhập tên người sử dụng -> Next. Cửa sổ thứ hai là nơi tạo mật khẩu. Cửa sổ kế tiếp, chỉ định thư mục chính (Home directory) cho người sử dụng này khi truy cập vào FTP Server. Nhấp chuột vào biểu tượng tủ hồ sơ (bên phải) để chọn thư mục -> OK -> Next.

Cửa sổ cuối cùng cho bạn sự chọn lựa: Nếu chọn Yes (mặc định), người sử dụng này chỉ có thể truy cập vào thư mục đã gán. Nếu chọn No, người sử dụng có thể "dạo quanh" toàn bộ ổ cứng và lỡ "ngứa tay" phá phách thì ô hô... ai tai. Tiếp đó chỉ cần nhấn "Finish".

- Thiết lập mức giới hạn cho sự truy cập của người sử dụng: Chọn tên người sử dụng ở bên trái cửa sổ Serv-U Administrator. Sau đó, ở phần bên phải chọn General và thiết lập các thông tin nào mình thấy cần thiết (cái nào không cần thì cứ để nguyên). Cần chú ý các tùy chọn: Hide hidden file: giấu tập tin hay thư mục. Always allow login: được phép truy cập cho dù số người đang truy cập đã vượt quá giới hạn. Allow only [ ] login(s) from the same IP address: giới hạn số người từ cùng một địa chỉ IP truy cập vào FTP Server. Allow user to change password: cho phép người sử dụng thay đổi mật mã. Max upload speed/ Max download speed: giới hạn tốc độ tải lên (upload) và tải xuống (download), nếu bỏ trống là không giới hạn. Max no of users: giới hạn số người dùng tài khoản này truy cập vào FTP Server.

- Vào phần Dir Access để thiết lập quyền truy cập thư mục cho người sử dụng. Chỉ chọn mục nào cần thiết cho người sử dụng, còn lại cứ để nguyên.

File : Read: cho phép tải xuống. Write: cho phép tải lên. Append: cho phép tải tiếp tục trong trường hợp đang tải thì bị đứt giữa chừng. Delete: cho phép xóa hay thay đổi tập tin. Execute: cho phép chạy tập tin trực tiếp từ FTP Server.

Directories: List: cho phép truy cập vào những thư mục. Create: cho phép tạo thư mục. Remove: cho phép xóa thư mục.

Sub-directories/ Inherit: cho phép người sử dụng thiết lập những thuộc tính mình đã chọn lên những thư mục/tập tin con y như đã áp dụng đối với thư mục/tập tin chính.

Nút Add cho phép tạo thêm những thư mục khác để người sử dụng có thể truy cập. Tương tự, nút Delete để xóa đi những thư mục mình đã gán quyền sử dụng trước đây, còn nút Edit để thay đổi đường dẫn của một thư mục được gán trước đây.

- Đến đây thì bạn đã hoàn tất việc tạo FTP Server. Để người khác có thể truy cập vào FTP Server của mình, bạn phải cho họ biết những thông tin sau: Địa chỉ IP của FTP Server, nếu bạn không dùng cổng 21 thì phải cho biết số cổng. Tên truy cập (username) và mật khẩu (password).

- Trong trường hợp bạn kết nối Internet thông qua mạng nội bộ (LAN) hay có tường lửa (firewall), bạn cần xác lập thêm:

- Đối với tường lửa: Thiết lập sự cho phép người dùng Internet truyền và tải thông tin liên lạc với máy của bạn qua cổng 21 hoặc là cổng mà bạn dùng để chạy FTP Server.

- Đối với mạng nội bộ xài qua router: Ở phần thiết lập hệ thống của router, bạn phải mở cổng 21 (hoặc là cổng bạn chọn cho FTP server) và hướng dẫn (forward) tất cả thông tin đi qua cổng này đến địa chỉ IP của máy chạy FTP Server. Vấn đề cần quan tâm là khi nhập đia chỉ IP (Add new domain – Step 1) vào chương trình Serv-U (lúc tạo FTP server), ta không được nhập địa chỉ IP của máy chạy FTP Server mà phải chọn Use any available IP address bằng cách nhấn mũi tên xuống ở bên cạnh nơi nhập số IP. Khi hoàn tất, cửa sổ Serv-U Administrator của bạn nên nhìn giống như hình minh họa:

Đối với những người xài IP động thì cũng có cách để cài đặt FTP Server, mặc dù hơi phiền phức đôi chút. Xin mời bạn xem e-CHÍP các số sau hạ hồi phân giải.

More about →

Khi modem không tự động quay số

Người đăng: Unknown on Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012

Khi modem không tự động quay số

Một ngày nào đó, nếu tự nhiên cái modem của bạn trở chứng khi kết nối Internet lại cứ báo một câu nghe rất ư là buồn như: "Opening port... Error 676: The phone line is busy".

Và việc này diễn ra mãi, sau khi bạn đã Redial liên tục 99 lần. Trường hợp này có thể do modem của bạn đã hỏng phần quay số tự động chứ không phải nhà cung cấp Internet bị nghẽn mạch đâu?

Đem ra thợ ư? Hiện nay không chỗ nào nhận sửa modem (tôi đã tìm mất ba ngày mà không ra). Vào phần Help của Windows lại càng buồn hơn vì hướng dẫn không hợp với thực tế. Cuối cùng, tôi phải "tự lực cánh sinh", mày mò "ngâm cứu" và tìm ra cách khắc phục. Nay xin viết ra để tặng những người đang "nổi khùng" như tôi trước đây, hy vọng sẽ giúp được các bạn.

Trước tiên, bạn thực hiện các thiết đặt tùy theo hệ điều hành đang chạy như sau:

- WIN98: Vào Start\Programs\Accessories\Communication, chọn Dial- UpNetworking -> Chọn kết nối Internet nào mà bạn muốn quay số bằng tay (nếu có nhiều kết nối), bấm phím phải chuột vào biểu tượng rồi chọn Properties -> Trong thẻ General chọn Configure trong mục Connect Using -> Trong thẻ Option chọn Operator assisted or manual dial -> Chọn OK -> OK.

- WIN2000/XP: Từ Control Panel, mở Network and Dial-Up Connections - > Trong thẻ Advanced, chọn Operator-Assited Dialing. Riêng WIN2000 và WINXP không phân biệt bạn chọn kết nối nào.

Sau đó, bạn trở lại với kết nối. Khi bạn nhấn Dial, máy sẽ thông báo như sau:

"Pick up the handset and dial (or ask the operator to dial). Press OK immediately after dialing then replace the handset"

Bạn dùng máy điện thoại để quay số, rồi nhấn OK từ hộp thoại. Sau đó đặt ống nghe xuống và chờ modem làm tiếp phần việc còn lại. Lưu ý: Việc nhấn OK phải thực hiện liền ngay sau khi quay số. Nếu bạn để hơi lâu sẽ không có tác dụng, máy sẽ báo lại lỗi Error 676 như trên. Nếu làm đúng, bạn sẽ lại nghe tiếng rít thân thương của modem khi kết nối được.

More about →

TẠO LOGO TRỰC TUYẾN (Phần 3)

Người đăng: Unknown

Trước đây, tôi có chia sẻ với các bạn một trang tạo Logo (Phần 2) Xem TẠI ĐÂY.
Tiếp hôm nay, tôi xin chia sẻ thêm cho các bạn một trang tạo Logo trực tuyến cũng khá đẹp với nhiều mẫu mã có sẳn để bạn tha hồ lựa chọn...
Tại trang này, bạn có thể add các dòng chữ hoặc tên Blog của mình vào các hình ảnh lạ mắt.

Dưới đây là một vài mẫu tôi làm từ trang dịch vụ này, mời các bạn tham khảo:









Còn nhiều mẫu khá đẹp đang chờ các bạn khám phá. Nếu các bạn quan tâm thì bấm vào thẻ phía dưới:

Chúc các bạn có một Logo đẹp cho blog của mình

▀▄▀▄▀▄ dunghennessy.blogspot.com ▄▀▄▀▄▀

More about →

HDD BÍ KÍP: Những câu “KHẨU QUYẾT” phải nằm lòng về cái ổ đĩa cứng

Người đăng: Unknown on Thứ Năm, 17 tháng 5, 2012

HDD BÍ KÍP: Những câu "KHẨU QUYẾT" phải nằm lòng về cái ổ đĩa cứng

P. A. P.

Nguyên tắc bất di bất dịch "cãi lời, chết ráng chịu" thứ nhất là trước khi gắn bất cứ một thiết bị nào vào máy tính, bạn phải đọc kỹ trước tiên toàn bộ các tài liệu hướng dẫn lắp đặt (installation guidelines hay manual) kèm theo. Nếu không có mấy cái "bí kíp" này, bạn nên hỏi kỹ đại lý cách cài đặt hay có thể truy cập vào trang Web của nhà sản xuất thiết bị mà tham khảo.

Nguyên tắc sinh tử thứ hai là ổ đĩa cứng đắt thật, nhưng dữ liệu chứa bên trong nó lại là vô giá!

Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản mà bạn phải nằm lòng đối với cái ổ đĩa cứng (HDD) giao diện ATA/IDE:

- Hầu hết HDD đều đã được nhà sản xuất gắn jumper mặc định ở vị trí Master khi xuất xưởng.

- Bộ điều khiển IDE (IDE controller), tức kênh IDE (IDE channel), chỉ thừa nhận hai thiết bị IDE chia nhau một sợi cáp IDE (cáp dữ liệu IDE hay cáp giao diện ATA).

- Các mainboard về cơ bản có 2 bộ điều khiển IDE (Primary IDE cho các HDD và Secondary IDE cho các ổ đĩa quang như CD-ROM...). Như vậy, bạn chỉ có thể gắn tối đa 4 thiết bị IDE trong một máy tính.

- Khi gắn hai thiết bị IDE bất kỳ nào đó vào cùng một bộ điều khiển IDE, bạn phải chỉnh jumper cho cả hai: một cái ở vị trí Master, còn cái kia ở vị trí Slave.

- Luôn luôn cài đặt hệ điều hành trên một HDD có khả năng boot và được jump ở vị trí Master trên một kênh Primary IDE. Nếu gắn một HDD mới vào một bộ điều khiển IDE đang có sẵn một HDD đang sử dụng để chạy hệ điều hành, HDD cũ phải ở vị trí Master, còn cái gã mới nhập cư ở vị trí Slave. Nguyên tắc là ổ có chức năng boot phải là Master.

- Nếu hai HDD được gắn ở hai cáp IDE riêng rẽ, cả hai đều phải được jump ở vị trí Master (ổ chạy hệ thống ở Primary IDE, ổ kia ở Secondary IDE).

- Nếu có thể nên tránh tình trạng chia nhau một sợi cáp IDE. Đề xuất là gắn một mình HDD "chủ" máy (chạy hệ điều hành) vào cáp Primary IDE. Còn các thiết bị IDE khác gắn vào cáp Secondary IDE.

- Khi có hai HDD, cái nào chạy nhanh nhất làm chủ.

- Nếu có điều kiện tài chính, nên gắn thêm một HDD thứ hai có dung lượng lớn để làm nơi back up (sao lưu) dữ liệu. HDD bao giờ cũng chạy nhanh hơn bất cứ thiết bị back up nào. Và rất hiếm khi xảy ra tình trạng cả hai HDD cùng chết bất đắc kỳ tử một lúc (trừ phi bị cháy hệ thống).

CÁCH CẦM HDD ĐÚNG: CHỈ CẦM Ở HAI BÊN HÔNG.

- HDD phải được định dạng (format) và chia vùng (partition) trước khi sử dụng.

- Phải back up toàn bộ dữ liệu đang có trên HDD cũ trước khi thay nó bằng một HDD mới.

- Nếu thay một HDD mới tinh, tốt hơn cả là nên cài đặt lại hệ thống từ đầu. Sau khi máy chạy ổn định, bạn mới đổ các dữ liệu đã back up sang.

- Các mainboard cũ không nhận được các HDD mới có dung lượng lớn. Cần phải tham khảo trước nơi bán. Nếu không thể update BIOS thì chỉ còn có nước hoặc mua một mainboard mới, hoặc tậu thêm một card điều khiển IDE giao diện PCI.

- HDD 40GB giao diện EIDE Ultra/ATA 100 phổ biến nhất hiện nay.

- Hành xử với HDD giống như với một quả trứng gà. Hết sức cẩn trọng, nhẹ nhàng. Coi "bọc thép" vậy chứ các bộ phận của nó rất nhạy cảm, mong manh. Chớ có tò mò tọc mạch sờ mó vào bảng mạch hay các linh kiện trên đó. Chỉ cầm ở hai bên hông HDD. Khi di chuyển, nên đặt HDD vào trong hộp chèn kỹ.

Nguyên tắc bất di bất dịch "cãi lời, chết ráng chịu" thứ nhất là trước khi gắn bất cứ một thiết bị nào vào máy tính, bạn phải đọc kỹ trước tiên toàn bộ các tài liệu hướng dẫn lắp đặt (installation guidelines hay manual) kèm theo. Nếu không có mấy cái "bí kíp" này, bạn nên hỏi kỹ đại lý cách cài đặt hay có thể truy cập vào trang Web của nhà sản xuất thiết bị mà tham khảo.

Nguyên tắc sinh tử thứ hai là ổ đĩa cứng đắt thật, nhưng dữ liệu chứa bên trong nó lại là vô giá!

Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản mà bạn phải nằm lòng đối với cái ổ đĩa cứng (HDD) giao diện ATA/IDE:

- Hầu hết HDD đều đã được nhà sản xuất gắn jumper mặc định ở vị trí Master khi xuất xưởng.

- Bộ điều khiển IDE (IDE controller), tức kênh IDE (IDE channel), chỉ thừa nhận hai thiết bị IDE chia nhau một sợi cáp IDE (cáp dữ liệu IDE hay cáp giao diện ATA).

- Các mainboard về cơ bản có 2 bộ điều khiển IDE (Primary IDE cho các HDD và Secondary IDE cho các ổ đĩa quang như CD-ROM...). Như vậy, bạn chỉ có thể gắn tối đa 4 thiết bị IDE trong một máy tính.

- Khi gắn hai thiết bị IDE bất kỳ nào đó vào cùng một bộ điều khiển IDE, bạn phải chỉnh jumper cho cả hai: một cái ở vị trí Master, còn cái kia ở vị trí Slave.

- Luôn luôn cài đặt hệ điều hành trên một HDD có khả năng boot và được jump ở vị trí Master trên một kênh Primary IDE. Nếu gắn một HDD mới vào một bộ điều khiển IDE đang có sẵn một HDD đang sử dụng để chạy hệ điều hành, HDD cũ phải ở vị trí Master, còn cái gã mới nhập cư ở vị trí Slave. Nguyên tắc là ổ có chức năng boot phải là Master.

- Nếu hai HDD được gắn ở hai cáp IDE riêng rẽ, cả hai đều phải được jump ở vị trí Master (ổ chạy hệ thống ở Primary IDE, ổ kia ở Secondary IDE).

- Nếu có thể nên tránh tình trạng chia nhau một sợi cáp IDE. Đề xuất là gắn một mình HDD "chủ" máy (chạy hệ điều hành) vào cáp Primary IDE. Còn các thiết bị IDE khác gắn vào cáp Secondary IDE.

- Khi có hai HDD, cái nào chạy nhanh nhất làm chủ.

- HDD phải được định dạng (format) và chia vùng (partition) trước khi sử dụng.

- Phải back up toàn bộ dữ liệu đang có trên HDD cũ trước khi thay nó bằng một HDD mới.

- Nếu thay một HDD mới tinh, tốt hơn cả là nên cài đặt lại hệ thống từ đầu. Sau khi máy chạy ổn định, bạn mới đổ các dữ liệu đã back up sang.

- Các mainboard cũ không nhận được các HDD mới có dung lượng lớn. Cần phải tham khảo trước nơi bán. Nếu không thể update BIOS thì chỉ còn có nước hoặc mua một mainboard mới, hoặc tậu thêm một card điều khiển IDE giao diện PCI.

- HDD 40GB giao diện EIDE Ultra/ATA 100 phổ biến nhất hiện nay.

- Hành xử với HDD giống như với một quả trứng gà. Hết sức cẩn trọng, nhẹ nhàng. Coi "bọc thép" vậy chứ các bộ phận của nó rất nhạy cảm, mong manh. Chớ có tò mò tọc mạch sờ mó vào bảng mạch hay các linh kiện trên đó. Chỉ cầm ở hai bên hông HDD. Khi di chuyển, nên đặt HDD vào trong hộp chèn kỹ.

More about →

Bật / tắt Registry Editor trong Windows XP

Người đăng: Unknown on Thứ Tư, 16 tháng 5, 2012

1001 THỦ THUẬT

Như bạn đã biết Registry là một cơ sở dữ liệu phức tạp, nó chứa các thông tin về cấu hình hệ thống và thông tin về các chương trình. Để tránh tình trạng người lạ sử dụng máy của mình để chỉnh sửa Registry, bạn có thể sử dụng đoạn mã sau để khóa / mở khóa Registry Editor (trình biên tập Registry).

Mở Notepad và chép đoạn mã sau vào (có thể tải về từ www.echip.com.vn). Option Explicit

Dim WSHShell, n, MyBox, p, t, mustboot, errnum, vers

Dim enab, disab, jobfunc, itemtype

Set WSHShell = WScript.CreateObject("WScript.Shell")

p = "HKCU\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System\"

p = p & "DisableRegistryTools"

itemtype = "REG_DWORD"

mustboot = "Log off and back on, or restart your pc to" & vbCR & "effect the changes"

enab = "ENABLED"

disab = "DISABLED"

jobfunc = "Registry Editing Tools are now "

t = "Confirmation"

Err.Clear

On Error Resume Next

n = WSHShell.RegRead (p)

On Error Goto 0

errnum = Err.Number

if errnum 0 then

WSHShell.RegWrite p, 0, itemtype

End If

If n = 0 Then

n = 1

WSHShell.RegWrite p, n, itemtype

Mybox = MsgBox(jobfunc & disab & vbCR & mustboot, 4096, t)

ElseIf n = 1 then

n = 0

WSHShell.RegWrite p, n, itemtype

Mybox = MsgBox(jobfunc & enab & vbCR & mustboot, 4096, t)

End If Lưu tập tin này lại với tên là disenablereg.vbs và chạy nó. Nếu Registry Editor đang được mở, chương trình sẽ khóa Registry Editor lại. Chạy chương trình này một lần nữa để mở khóa cho Registy Editor.

TRẦN HỮU PHƯỚC (Cà Mau)

More about →

TẠO MENU NGANG CÓ MENU CON XỔ XUỐNG MỘT CẤP (Kiểu 3)

Người đăng: Unknown

Nếu bạn chưa thoả mãn với 2 kiểu menu ngang xổ xuống một cấp (kiểu 1: Xem TẠI ĐÂY, kiểu 2: Xem TẠI ĐÂY.), các bạn có thể sử dụng menu ngang kiểu 3 này.
Với thủ thuật này, khi rê chuột vào một mục bất kỳ trên thanh menu sẽ có một menu con xổ dọc xuống "khá mướt" và khi bạn rê chuột vào thì menu con sẽ đổi màu "khá đẹp".
Mời bạn bấm vào Xem thử phía dưới để trải nghiệm nha. 
Thủ thuật này chỉ áp dụng cho các Blog sử dụng giao diện V2 (giao diện được tải trên mạng về), còn nếu áp dụng cho các giao diện mặc định của Blogspot thì bạn phải kéo tiện ích này nằm sát trên khu vực bài đăng thì menu con mới xổ xuống được...



Xem thử

Bạn chỉ cần đăng nhập vào Blog > Chọn Thiết kế > Thêm tiện ích HTML (đối với các bạn đang sử dụng giao diện blogspot mới thì đăng nhập vào Blog > Chọn Bố cục > Thêm tiện ích HTML) rồi dán đoạn code phía dưới vào.

<style>
    #mbt-menu, #mbt-menu ul {

    margin: 0;

    padding: 0;

    list-style: none;

    }

    #mbt-menu {

    width: 913px; /* Độ rộng của toàn bộ thanh menu */

    margin: 0px auto ;

    border: 1px solid #222;

    background-color: #111;

    background-image: -moz-linear-gradient(#444, #111);

    background-image: -webkit-gradient(linear, left top, left bottom, from(#444), to(#111));

    background-image: -webkit-linear-gradient(#444, #111);

    background-image: -o-linear-gradient(#444, #111);

    background-image: -ms-linear-gradient(#444, #111);

    background-image: linear-gradient(#444, #111);

    -moz-border-radius: 6px;

    -webkit-border-radius: 6px;

    border-radius: 6px;

    -moz-box-shadow: 0 1px 1px #777;

    -webkit-box-shadow: 0 1px 1px #777;

    box-shadow: 0 1px 1px #777;

    }

    #mbt-menu:before,

    #mbt-menu:after {

    content: "";

    display: table;

    }

    #mbt-menu:after {

    clear: both;

    }

    #mbt-menu {

    zoom:1;

    }

    #mbt-menu li {

    float: left;

    border-right: 1px solid #222;

    -moz-box-shadow: 1px 0 0 #444;

    -webkit-box-shadow: 1px 0 0 #444;

    box-shadow: 1px 0 0 #444;

    position: relative;

    }

    #mbt-menu a {

    float: left;

    padding: 12px 28px;

    color: #999;

    text-transform: uppercase;

    font: bold 12,5px Arial, Helvetica;

    text-decoration: none;

    text-shadow: 0 1px 0 #000;

    }

    #mbt-menu li:hover > a {

    color: #fafafa;

    }

    *html #mbt-menu li a:hover { /* IE6 only */

    color: #fafafa;

    }

    #mbt-menu ul {

    margin: 20px 0 0 0;

    _margin: 0; /*IE6 only*/

    opacity: 0;

    visibility: hidden;

    position: absolute;

    top: 38px;

    left: 0;

    z-index: 9999;

    background: #444;

    background: -moz-linear-gradient(#444, #111);

    background: -webkit-gradient(linear,left bottom,left top,color-stop(0, #111),color-stop(1, #444));

    background: -webkit-linear-gradient(#444, #111);

    background: -o-linear-gradient(#444, #111);

    background: -ms-linear-gradient(#444, #111);

    background: linear-gradient(#444, #111);

    -moz-box-shadow: 0 -1px rgba(255,255,255,.3);

    -webkit-box-shadow: 0 -1px 0 rgba(255,255,255,.3);

    box-shadow: 0 -1px 0 rgba(255,255,255,.3);

    -moz-border-radius: 3px;

    -webkit-border-radius: 3px;

    border-radius: 3px;

    -webkit-transition: all .2s ease-in-out;

    -moz-transition: all .2s ease-in-out;

    -ms-transition: all .2s ease-in-out;

    -o-transition: all .2s ease-in-out;

    transition: all .2s ease-in-out;

    }

    #mbt-menu li:hover > ul {

    opacity: 1;

    visibility: visible;

    margin: 0;

    }

    #mbt-menu ul ul {

    top: 0;

    left: 150px;

    margin: 0 0 0 20px;

    _margin: 0; /*IE6 only*/

    -moz-box-shadow: -1px 0 0 rgba(255,255,255,.3);

    -webkit-box-shadow: -1px 0 0 rgba(255,255,255,.3);

    box-shadow: -1px 0 0 rgba(255,255,255,.3);

    }

    #mbt-menu ul li {

    float: none;

    display: block;

    border: 0;

    _line-height: 0; /*IE6 only*/

    -moz-box-shadow: 0 1px 0 #111, 0 2px 0 #666;

    -webkit-box-shadow: 0 1px 0 #111, 0 2px 0 #666;

    box-shadow: 0 1px 0 #111, 0 2px 0 #666;

    }

    #mbt-menu ul li:last-child {

    -moz-box-shadow: none;

    -webkit-box-shadow: none;

    box-shadow: none;

    }

    #mbt-menu ul a {

    padding: 10px;

    width: 170px; /* Độ rộng của menu con */

    _height: 10px; /*IE6 only*/

    display: block;

    white-space: nowrap;

    float: none;

    text-transform: none;

    }

    #mbt-menu ul a:hover {

    background-color: #0186ba;

    background-image: -moz-linear-gradient(#04acec, #0186ba);

    background-image: -webkit-gradient(linear, left top, left bottom, from(#04acec), to(#0186ba));

    background-image: -webkit-linear-gradient(#04acec, #0186ba);

    background-image: -o-linear-gradient(#04acec, #0186ba);

    background-image: -ms-linear-gradient(#04acec, #0186ba);

    background-image: linear-gradient(#04acec, #0186ba);

    }

    #mbt-menu ul li:first-child > a {

    -moz-border-radius: 3px 3px 0 0;

    -webkit-border-radius: 3px 3px 0 0;

    border-radius: 3px 3px 0 0;

    }

    #mbt-menu ul li:first-child > a:after {

    content: '';

    position: absolute;

    left: 40px;

    top: -6px;

    border-left: 6px solid transparent;

    border-right: 6px solid transparent;

    border-bottom: 6px solid #444;

    }

    #mbt-menu ul ul li:first-child a:after {

    left: -6px;

    top: 50%;

    margin-top: -6px;

    border-left: 0;

    border-bottom: 6px solid transparent;

    border-top: 6px solid transparent;

    border-right: 6px solid #3b3b3b;

    }

    #mbt-menu ul li:first-child a:hover:after {

    border-bottom-color: #04acec;

    }

    #mbt-menu ul ul li:first-child a:hover:after {

    border-right-color: #0299d3;

    border-bottom-color: transparent;

    }

    #mbt-menu ul li:last-child > a {

    -moz-border-radius: 0 0 3px 3px;

    -webkit-border-radius: 0 0 3px 3px;

    border-radius: 0 0 3px 3px;

    }


    </style>


    <ul id="mbt-menu">
    <li><a href="http://dungheineken.blogspot.com/">Trang chủ</a></li>
    <li>
    <a href="#">Tên menu chính</a>
    <ul>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>

    </ul>
    </li>

   <li>
    <a href="#">Tên menu chính</a>
    <ul>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>

    </ul>
    </li>

   <li>
    <a href="#">Tên menu chính</a>
    <ul>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>

    </ul>
    </li>
<li>
    <a href="#">Tên menu chính</a>
    <ul>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    </ul>
    </li>

<li>
   <a href="#">Tên menu chính</a>
    <ul>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    </ul>
    </li>



    </ul>


Bây giờ, bạn cần thay đổi các dòng lệnh màu đỏ (bao gồm kích thước menu chính, kích thước menu con, tiêu đề và đường link liên kết # của menu), cuối cùng bấm Lưu lại là xong.

Mở rộng thêm:
* Muốn thêm 1 menu chính nữa thì copy dòng code này.

<li>
    <a href="#">Tên menu chính</a>
    <ul>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>
    <li><a href="#">● Tên menu con</a></li>

    </ul>
    </li>


Dán phía trên thẻ đóng </ul> cuối cùng
(Code của menu này được sưu tầm từ một trang Web nước ngoài, tôi đã chỉnh sửa lại đôi chút để phù hợp hơn...).




Chúc các bạn thành công!!! 


▀▄▀▄▀▄ dunghennessy.blogspot.com ▄▀▄▀▄▀

More about →

Windows, mỗi lần khởi động với hình nền và nhạc khác nhau

Người đăng: Unknown on Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Windows, mỗi lần khởi động với hình nền và nhạc khác nhau

Bạn là người làm việc thường xuyên với máy tính? Bạn là người luôn thích sự mới mẻ? Có khi nào bạn cảm thấy nhàm chán với cái hình nền trên desktop (wallpaper) cùng nhạc nền khởi động mặc định của Windows? Bạn muốn thay đổi chúng mỗi khi khởi động hay thậm chí sau một khoảng thời gian nào đó? Điều này có thể thực hiện được bằng cách cài đặt thêm phần mềm tiện ích bên ngoài. Tuy nhiên, tôi sẽ tặng bạn một "bí kíp" để thực hiện được yêu cầu thay đổi nhạc khởi động và hình nền (hoặc chỉ một trong hai) mỗi khi khởi động Windows mà không cần phải cài đặt thêm bất cứ phần mềm nào. Tôi đã thử và thành công đối với Windows Me và Windows XP. Các hướng dẫn trong bài này chủ yếu thực hiện cho Win XP.

Ý tưởng của thủ thuật là sử dụng một tập tin batch (.bat) chạy tự động mỗi khi khởi động Windows. Tập tin batch chứa một tập các dòng lệnh (theo cú pháp của MS-DOS) sẽ thực hiện việc đổi tên danh sách các hình nền và nhạc khởi động một cách tuần hoàn. Theo cách đó, bạn sẽ khởi động lần lượt xoay vòng với các tập tin trong danh sách. Có thể bạn còn cảm thấy mơ hồ với giải thích sơ lược trên, nhưng bạn sẽ hiểu dần khi bắt tay vào thực hiện thủ thuật này:

Bước 1: Chuẩn bị một số hình và nhạc (số lượng tùy ý và không cần đồng đều hai loại).

Một điều cần lưu ý là các tập tin nhạc phải theo chuẩn không nén wav. Và vì được nạp vào bộ nhớ trong khi khởi động nên kích thước của nó không nên quá lớn, như thế sẽ làm chậm quá trình khởi động, tối đa nên đặt dưới 3MB (thời lượng khoảng dưới một phút với chất lượng trung bình). Nếu tập tin nhạc do bạn tự biên tập (thu qua micro hoặc trích từ những bản nhạc), bạn có thể giảm chất lượng của tập tin nhạc xuống ở mức chấp nhận được để giảm kích thước tập tin. Để thực hiện điều này, bạn hãy dùng chương trình Sound Recorder có sẵn của Windows (có thể tìm thấy trong Start -> Programs -> Accessories -> Entertainment) mở tập tin nhạc -> vào menu File -> Properties, bạn có thể xem thông tin về định dạng của tập tin nhạc ở mục Audio Format. Theo kinh nghiệm của tôi, bạn chỉ cần chất lượng ở "22,050 kHz, 16 Bit, Stereo" là đủ. Để chuyển về định dạng này, bạn nhấp vào Convert Now -> ở danh sách Format, chọn PCM -> ở danh sách Attributes, chọn định dạng cần chuyển (bạn còn có thể giảm một nửa kích thước nếu chấp nhận chuyển xuống Mono).

Về hình nền, bạn cần chuẩn bị các ảnh có tỉ lệ kích thước Ngang x Cao (Width x Height) là 4 x 3 và từ 640x480 pixel trở lên. Có thể dùng các tập tin ở định dạng nén như .jpg, .gif nhưng tốt nhất vẫn là chuẩn không nén .bmp. Bạn chép tất cả các tập tin vào chung một thư mục cho mỗi loại. Để làm ví dụ, tôi sẽ tạo cây thư mục như sau: "C:\khoidong\nhac" cho nhạc nền và "C:\khoidong\hinh" cho hình nền. Đặt lại tên cho các tập tin theo số thứ tự. Tôi đặt tên các bức hình là H1.bmp, H2.bmp, H3.bmp... và các đoạn nhạc là B1.wav, B2.wav, B3.wav...

Bước 2: Cài đặt cho hình nền và nhạc khởi động là tập tin đầu tiên trong mỗi danh sách

Để cài đặt hình nền, Nhấp chuột phải lên hình nền ở Desktop -> Properties -> thẻ Desktop (hay Background nếu là Windows Me) -> nút Browse -> tìm đến tập tin đầu tiên trong danh sách ảnh nền của bạn (ví dụ này sẽ là C:\khoidong\hinh\H1.bmp) -> OK -> OK.

Để cài đặt nhạc khởi động Control Panel -> Sound, Speech, and Audio Devices -> Sound and Audio Devices (đối với Windows Me thì bạn vào Control Panel -> Sounds and Multimedia) -> thẻ Sounds -> trong danh sách Program Events (hay Sound Events – Windows Me) chọn Start Windows -> nút Browse, tìm đến tập tin đầu trong danh sách nhạc nền (trong ví dụ là C:\khoidong\hinh\B1.wav) -> Save as -> đặt một tên mới (như vậy sau này bạn có thể nhanh chóng chuyển đổi giữa cài đặt ban đầu với cài đặt mới này thông qua việc chọn lại Sound Scheme) -> OK -> OK.

Bước 3: Tạo tập tin batch bằng chương trình soạn thảo Notepad.

Gõ vào những câu lệnh sau, nhớ kết thúc mỗi dòng bằng Enter (giả sử ta có ba hình và ba đoạn nhạc).

ĐOẠN MÃ

Ren c:\khoidong\hinh\H1.bmp

temp.bmp

Ren c:\khoidong\hinh\H2.bmp

H1.bmp

Ren c:\khoidong\hinh\H3.bmp

H2.bmp

Ren c:\khoidong\nhac\B1.wav

temp.wav

Ren c:\khoidong\nhac\B2.wav

B1.wav

Ren c:\khoidong\nhac\B3.wav

B2.wav

Exit

Lưu tập tin vào thư mục tùy ý (có thể là c:\khoidong\) nhưng với tên là startup.bat

Bước 4: Để chạy nó mỗi khi khởi động, bạn cần tạo một shortcut vào trong thư mục Startup. Bạn hãy chạy Windows Explorer -> tìm đến thư mục chứa tập tin batch vừa mới tạo -> vào menu Edit -> Copy (Ctrl+C) nhấp vào menu Start -> All Programs -> nhấp chuột phải vào mục Startup rồi chọn Open -> trong cửa sổ của thư mục Startup, bạn vào menu Edit -> Paste Shortcut -> nhấp chuột phải vào shortcut vừa tạo, chọn Properties -> thẻ General, đặt lại cho shortcut một cái tên "gợi nhớ" chẳng hạn như "Thay doi Startup" -> thẻ Shortcut, ở mục Run chọn Minimized (như vậy cửa sổ chương trình sẽ không bật ra làm phiền bạn mỗi khi khởi động). Nếu bạn dùng Windows Me/9x thì cần phải đánh dấu thêm mục Close on Exit. Sau đó nhấn OK.

Nếu bạn đã hiểu cách thức thực hiện thủ thuật này thì bạn sẽ thấy rằng Windows khởi động xong rồi mới thực hiện đổi tên tập tin trong danh sách cho lần khởi động sau (các chương trình trong thư mục Startup được chạy sau cùng trong quá trình khởi động). Do đó, bây giờ bạn hãy nhấp đúp vào shortcut "Thay doi Startup" để chạy nó lần đầu tiên. Nếu máy bạn thực sự nhanh thì hầu như bạn không có cảm giác tập tin batch đã được chạy. Bây giờ mỗi khi khởi động, bạn sẽ thấy một hình nền khác cũng như một đoạn nhạc khác tạo cho bạn một cảm giác mới lạ và thoải mái khi làm việc với chiếc máy tính của mình.

Bạn là người làm việc thường xuyên với máy tính? Bạn là người luôn thích sự mới mẻ? Có khi nào bạn cảm thấy nhàm chán với cái hình nền trên desktop (wallpaper) cùng nhạc nền khởi động mặc định của Windows? Bạn muốn thay đổi chúng mỗi khi khởi động hay thậm chí sau một khoảng thời gian nào đó? Điều này có thể thực hiện được bằng cách cài đặt thêm phần mềm tiện ích bên ngoài. Tuy nhiên, tôi sẽ tặng bạn một "bí kíp" để thực hiện được yêu cầu thay đổi nhạc khởi động và hình nền (hoặc chỉ một trong hai) mỗi khi khởi động Windows mà không cần phải cài đặt thêm bất cứ phần mềm nào. Tôi đã thử và thành công đối với Windows Me và Windows XP. Các hướng dẫn trong bài này chủ yếu thực hiện cho Win XP.

Ý tưởng của thủ thuật là sử dụng một tập tin batch (.bat) chạy tự động mỗi khi khởi động Windows. Tập tin batch chứa một tập các dòng lệnh (theo cú pháp của MS-DOS) sẽ thực hiện việc đổi tên danh sách các hình nền và nhạc khởi động một cách tuần hoàn. Theo cách đó, bạn sẽ khởi động lần lượt xoay vòng với các tập tin trong danh sách. Có thể bạn còn cảm thấy mơ hồ với giải thích sơ lược trên, nhưng bạn sẽ hiểu dần khi bắt tay vào thực hiện thủ thuật này:

Bước 1: Chuẩn bị một số hình và nhạc (số lượng tùy ý và không cần đồng đều hai loại).

Một điều cần lưu ý là các tập tin nhạc phải theo chuẩn không nén wav. Và vì được nạp vào bộ nhớ trong khi khởi động nên kích thước của nó không nên quá lớn, như thế sẽ làm chậm quá trình khởi động, tối đa nên đặt dưới 3MB (thời lượng khoảng dưới một phút với chất lượng trung bình). Nếu tập tin nhạc do bạn tự biên tập (thu qua micro hoặc trích từ những bản nhạc), bạn có thể giảm chất lượng của tập tin nhạc xuống ở mức chấp nhận được để giảm kích thước tập tin. Để thực hiện điều này, bạn hãy dùng chương trình Sound Recorder có sẵn của Windows (có thể tìm thấy trong Start -> Programs -> Accessories -> Entertainment) mở tập tin nhạc -> vào menu File -> Properties, bạn có thể xem thông tin về định dạng của tập tin nhạc ở mục Audio Format. Theo kinh nghiệm của tôi, bạn chỉ cần chất lượng ở "22,050 kHz, 16 Bit, Stereo" là đủ. Để chuyển về định dạng này, bạn nhấp vào Convert Now -> ở danh sách Format, chọn PCM -> ở danh sách Attributes, chọn định dạng cần chuyển (bạn còn có thể giảm một nửa kích thước nếu chấp nhận chuyển xuống Mono).

Về hình nền, bạn cần chuẩn bị các ảnh có tỉ lệ kích thước Ngang x Cao (Width x Height) là 4 x 3 và từ 640x480 pixel trở lên. Có thể dùng các tập tin ở định dạng nén như .jpg, .gif nhưng tốt nhất vẫn là chuẩn không nén .bmp. Bạn chép tất cả các tập tin vào chung một thư mục cho mỗi loại. Để làm ví dụ, tôi sẽ tạo cây thư mục như sau: "C:\khoidong\nhac" cho nhạc nền và "C:\khoidong\hinh" cho hình nền. Đặt lại tên cho các tập tin theo số thứ tự. Tôi đặt tên các bức hình là H1.bmp, H2.bmp, H3.bmp... và các đoạn nhạc là B1.wav, B2.wav, B3.wav...

Bước 2: Cài đặt cho hình nền và nhạc khởi động là tập tin đầu tiên trong mỗi danh sách

Để cài đặt hình nền, Nhấp chuột phải lên hình nền ở Desktop -> Properties -> thẻ Desktop (hay Background nếu là Windows Me) -> nút Browse -> tìm đến tập tin đầu tiên trong danh sách ảnh nền của bạn (ví dụ này sẽ là C:\khoidong\hinh\H1.bmp) -> OK -> OK.

Để cài đặt nhạc khởi động Control Panel -> Sound, Speech, and Audio Devices -> Sound and Audio Devices (đối với Windows Me thì bạn vào Control Panel -> Sounds and Multimedia) -> thẻ Sounds -> trong danh sách Program Events (hay Sound Events – Windows Me) chọn Start Windows -> nút Browse, tìm đến tập tin đầu trong danh sách nhạc nền (trong ví dụ là C:\khoidong\hinh\B1.wav) -> Save as -> đặt một tên mới (như vậy sau này bạn có thể nhanh chóng chuyển đổi giữa cài đặt ban đầu với cài đặt mới này thông qua việc chọn lại Sound Scheme) -> OK -> OK.

Bước 3: Tạo tập tin batch bằng chương trình soạn thảo Notepad.

Gõ vào những câu lệnh sau, nhớ kết thúc mỗi dòng bằng Enter (giả sử ta có ba hình và ba đoạn nhạc).

ĐOẠN MÃ

Ren c:\khoidong\hinh\H1.bmp

temp.bmp

Ren c:\khoidong\hinh\H2.bmp

H1.bmp

Ren c:\khoidong\hinh\H3.bmp

H2.bmp

Ren c:\khoidong\nhac\B1.wav

temp.wav

Ren c:\khoidong\nhac\B2.wav

B1.wav

Ren c:\khoidong\nhac\B3.wav

B2.wav

Exit

Lưu tập tin vào thư mục tùy ý (có thể là c:\khoidong\) nhưng với tên là startup.bat

Bước 4: Để chạy nó mỗi khi khởi động, bạn cần tạo một shortcut vào trong thư mục Startup. Bạn hãy chạy Windows Explorer -> tìm đến thư mục chứa tập tin batch vừa mới tạo -> vào menu Edit -> Copy (Ctrl+C) nhấp vào menu Start -> All Programs -> nhấp chuột phải vào mục Startup rồi chọn Open -> trong cửa sổ của thư mục Startup, bạn vào menu Edit -> Paste Shortcut -> nhấp chuột phải vào shortcut vừa tạo, chọn Properties -> thẻ General, đặt lại cho shortcut một cái tên "gợi nhớ" chẳng hạn như "Thay doi Startup" -> thẻ Shortcut, ở mục Run chọn Minimized (như vậy cửa sổ chương trình sẽ không bật ra làm phiền bạn mỗi khi khởi động). Nếu bạn dùng Windows Me/9x thì cần phải đánh dấu thêm mục Close on Exit. Sau đó nhấn OK.

Nếu bạn đã hiểu cách thức thực hiện thủ thuật này thì bạn sẽ thấy rằng Windows khởi động xong rồi mới thực hiện đổi tên tập tin trong danh sách cho lần khởi động sau (các chương trình trong thư mục Startup được chạy sau cùng trong quá trình khởi động). Do đó, bây giờ bạn hãy nhấp đúp vào shortcut "Thay doi Startup" để chạy nó lần đầu tiên. Nếu máy bạn thực sự nhanh thì hầu như bạn không có cảm giác tập tin batch đã được chạy. Bây giờ mỗi khi khởi động, bạn sẽ thấy một hình nền khác cũng như một đoạn nhạc khác tạo cho bạn một cảm giác mới lạ và thoải mái khi làm việc với chiếc máy tính của mình.

More about →